18. Điệp Cúng Triêu Điện & Tịch Điện
(Tư Độ Linh Diên)
Nguyên văn:
資度靈筵 爲牒奠事。茲據
越南國...省...縣(郡)...社...村、哀堂奉
佛修香諷經遷柩歸山安墳淨土(朝、夕)奠之禮、報德酬恩祈超度事。今孤(哀)子...等、維日謹以金銀齋盤清酌庶品菲禮之儀、置奠于
奉爲故父...府君之靈柩。
嗚呼、一靈奄化、四大俄分、泉臺月冷夜凄凄、(椿樹、萱室)霜侵雲暗暗、水流花謝、不復回還、物換星移、難期際會、情牽風月、義篤薦酬。由是仗禪和而諷誦、依科範以宣揚、恭行(朝、夕)奠之儀、少答生成之德。今則法筵載設、薄味虔將、請赴靈床、依位而坐。
惟願、心空卽佛、了悟無生、出南柯一夢之鄕、入西方九蓮之境。須至牒者。
右牒奠
香靈座前鑒知收執。謹牒。
歲次...年...月...日時 。請奠牒
Phiên âm:
Tư Độ Linh Diên Vị điệp điện sự.
Tư cứ: Việt Nam Quốc ... Tỉnh, … Huyện (Quận), … Xã, … Thôn, ai đường phụng Phật tu hương phúng kinh thiên cữu quy sơn an phần Tịnh Độ (Triêu, Tịch) Điện chi lễ, báo đức thù ân, kỳ siêu độ sự. Kim cô (ai) tử ... đẳng, duy nhật cẩn dĩ hương hoa trai bàn thứ phẩm phỉ lễ chi nghi trí điện vu.
Phụng vị cố phụ … phủ quân chi linh cữu.
Ô hô ! Nhất linh yểm hóa, Tứ Đại1 nga phân; tuyền đài nguyệt lãnh dạ thê thê, (thung thọ, huyên thất) sương xâm vân ám ám; thủy lưu hoa tạ, bất phục hồi hoàn; vật hoán tinh di, nan kỳ tế hội; tình khiên phong nguyệt, nghĩa đốc tiến thù. Do thị trượng Thiền hòa nhi phúng tụng, y khoa phạm dĩ tuyên dương; cung hành (triêu, tịch) điện chi nghi, thiểu đáp sanh thành chi đức. Kim tắc pháp diên tải thiết, bạc vị kiền tương; thỉnh phó linh sàng, y vị nhi tọa.
Duy nguyện: Tâm không2 tức Phật, liễu ngộ vô sanh;3 xuất Nam Kha nhất mộng chi hương, nhập Tây phương Cửu Liên chi cảnh. Tu chí điệp giả.
Hữu Điệp Điện
Hương linh tòa tiền giám tri thu chấp. Cẩn điệp.
Tuế thứ ... niên ... nguyệt ... nhật thời. Thỉnh điện điệp.
Dịch nghĩa:
Diên Cúng Siêu Độ Vì điệp dâng cúng.
Nay căn cứ: Việc gia đình đau buồn hiện ở tại Thôn ..., Xã …, Huyện (Quận) …, Tỉnh …, nước Việt Nam, thờ Phật dâng hương tụng kinh dời quan về núi yên mộ phần Tịnh Độ, lễ cúng buổi (sáng, tối), báo đức đền ơn cầu siêu độ. Nay con cô đơn (buồn đau)..., hôm nay kính lấy nghi lễ hương hoa cỗ chay phẩm vật lễ mọn, kính cúng lên:
Kính vì hương linh cha đã qua đời ...
Than ôi ! Một linh quá vãng, Bốn Đại chia lìa; tuyền đài trăng lạnh đêm thảm thê, (cây cha, nhà mẹ) sương giăng mây ảm đạm; nước trôi hoa rụng, chẳng dịp trở về; vật đổi sao dời, khó mong gặp lại; tình lay trăng gió, nghĩa dốc cúng đền. Do vậy nương chúng tăng mà đọc tụng, theo khoa lễ mà tiến hành; kính làm cúng (sáng, tối) thức nghi, đáp chút sinh thành đức cả. Nay lúc diên cúng bày dọn, vị mọn kính dâng; mời đến linh sàng, theo chỗ an tọa.
Kính mong: Tâm không là Phật, tỏ ngộ vô sanh; thoát Nam Kha giấc mộng quê hương, nhập Tây phương chín sen cảnh giới. Kính dâng điệp nầy.
Kính Điệp Cúng
Hương linh trước tòa chứng biết nhận lấy. Kính điệp.
Lúc ... ngày ... tháng ... năm ... Điệp thỉnh cúng.
Chú thích:
- Tứ Đại (s: catvāri mahā-bhūtāni, p: cattāri mahā-bhūtāni, 四大): từ gọi tắt của Tứ Đại Chủng (四大種), còn gọi là Tứ Giới (四界), Giới (界), tức là ý dịch của Phạn ngữ dhātu. Thuyết nguyên tố của Phật Giáo cho rằng vật chất (sắc pháp) được cấu thành từ 4 yếu tố chính là đất, nước, lửa và gió. (1) Bản chất tánh cứng rắn mà có tác dụng bảo trì, gọi là Địa Đại (s: pṛthivī-dhātu, p: paṭhavī-mahā-bhūta, 地大); (2) Bản chất có tánh ẩm ướt, mà có tác dụng nhiếp tập, gọi là Thủy Đại (s: ab-dhātu, p: āpo-mahā-bhūta, 水大); (3) Bản chất có tánh nóng ấm, mà có tác dụng thành thục, gọi là Hỏa Đại (s: tejo-dhātu, p: tejo-mahā-bhūta, 火大); (4) Bản chất có tánh di động, mà có tác dụng sinh trưởng, gọi là Phong Đại (s: vāyu-dhātu, p: vayo-mahā-bhūta, 風大). Tích tụ cả Bốn Đại này có thể hình thành nên vật chất, cho nên Bốn Đại này gọi là sắc năng tạo, đại chủng năng tạo. Các sắc pháp được tạo tác gọi là tứ đại sở tạo. Chữ Đại (大) ở đây có nghĩa là rộng lớn, có đủ 3 nghĩa như sau: (1) Thể tánh của Bốn Đại rộng lớn, biến cùng khắp các sắc pháp, nên có nghĩa là thể đại (體大, thể lớn); (2) Hình tướng của Bốn Đại rộng lớn, như núi lớn, biển lớn, lửa lớn, gió lớn, v.v., nên có nghĩa là tướng đại (相大, tướng lớn); (3) Tác dụng của Bốn Đại rộng lớn, như Tam Tai nước, lửa, gió và Địa Đại duy trì đất trời, nên có nghĩa là dụng đại (用大, tác dụng lớn). Còn chữ chủng (種) trong Tứ Đại Chủng (四大種) thì lấy tánh Bốn Đại vốn là nơi nương tựa của các sắc pháp, có ý nghĩa có thể sanh ra, nhân, v.v.; như cha mẹ là nơi nương tựa của con gái, nhưng cha mẹ cũng có đủ nhân có khả năng sanh ra, nên gọi là chủng. Nguyên tố Bốn Đại, nhân là có đủ nhân sanh ra, nhân nương vào, nhân thành lập, nhân duy trì, nhân nuôi dưỡng, nên gọi là sắc có thể tạo tác. Nếu theo thuyết của A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận (阿毘達磨俱舍論, Taishō Tripitaka Vol. 29, No. 1558), Bốn Đại này có đủ phân biệt giả và thật, như Bốn Đại có tánh cứng, ướt, ấm, động như vừa nêu trên, là Thật Tứ Đại (實四大), Tánh Tứ Đại (性四大); nhưng thế gian gọi Bốn Đại là Đất, Nước, Lửa, Gió, là Giả Tứ Đại (假四大), Sự Tứ Đại (事四大). Loại Thật Tứ Đại thuộc về sự xúc chạm của thân căn, bị nơi xúc chạm thâu nhiếp; loại Giả Tứ Đại (假四大) thuộc về cái thấy của con mắt, bị hình sắc thâu nhiếp. Phật Giáo chủ trương thân thể của vạn vật và người đều do Bốn Đại cấu thành, tức Bốn Đại cùng nương tựa lẫn nhau, có cái cực nhỏ, cực nhỏ tụ hợp lại thành sắc pháp. Tứ Đại Chủng có thể tạo ra này với Bốn Trần sắc, hương, vị, xúc được tạo ra, đều tập trung một nơi, đó là bát sự câu sanh (八事俱生, tám việc đều sanh). Tứ Đại Chủng này tuy thông với hết thảy sắc pháp, nhưng trong sắc pháp bất đồng, lại có loại tăng trưởng; tỷ dụ như trong các vật cứng như núi non, Địa Đại là tăng trưởng mạnh nhất; trong các vật ẩm ướt như sông biển, Thủy Đại tăng trưởng lớn nhất. Sự tăng trưởng này có thể từ phương diện thể tánh và thế lực của Bốn Đại, được chia thành 2 loại. Ngoài ra, Ba Đại chưa hiển lộ, trong tánh chất tiềm tàng của nó, thầm lặng chờ đợi nhân duyên hội ngộ mà hiển hiện, giống như đánh vào lửa thì sanh ra lửa, hay khi nước lạnh thì đóng băng, v.v. Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (s: Sarvāsti-vādin, p: Sabbattivāda, 說一切有部) chủ trương Bốn Đại có khả năng tạo tác thì khác nhau, cho nên sắc pháp được sản sanh ra thì có 11 loại khác nhau. Có nghĩa rằng Đại Chủng do nhãn căn nương vào thì chỉ tạo ra nhãn căn, mà các căn khác như Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, v.v., cho đến các xứ như Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, Pháp, v.v., thảy đều do Đại Chủng chúng nương tựa mà tạo thành, hợp nên 11 loại sắc pháp. Về giải thích Bốn Đại như đã nêu trên, thảy đều căn cứ vào A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận quyển 1, 4, 13; A Tỳ Đạt Ma Đại Tỳ Bà Sa Luận (阿毘達磨大毘婆沙論, Taishō Vol. 27, No. 1545) quyển 75, 127, 131, v.v. Ngoài ra, các kinh điển và bộ phái khác có một số dị thuyết, xin nêu ra như sau. (1) Theo Thành Thật Luận (成實論, Taishō Vol. 32, No. 1646) quyển 3, 4, Bốn Trần Sắc, Hương, Vị, Xúc là năng tạo; Đất, Nước, Lửa, Gió, là sở tạo; Bốn Đại thành Năm Căn, nhưng Bốn Đại này là pháp giả danh, nếu xa lìa Bốn Trần thì không còn tồn tại; do vì Bốn Trần có đủ các tướng cứng, ướt, ấm, động, Bốn Đại chỉ là giả lập ra thôi, mà Năm Căn do Bốn Đại hình thành, nên Năm Căn cũng là pháp giả danh. Cho nên, thuyết này khác với thuyết của Câu Xá Luận nêu trên. (2) Theo Du Già Sư Địa Luận (瑜伽師地論, Taishō Vol. 30, No. 1579) quyển 3, 64, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương (大乘法苑義林章, Taishō Vol. 45, No. 1861) quyển 3, v.v., xúc xứ, pháp xứ đều có Đại Chủng, có hai loại khác nhau là tán (散) và định (定); cho nên cho nên sắc pháp sở tạo thông với 11 xứ. Đại Chủng cùng với sắc pháp sở tạo thông nhiếp với hai tánh là Y Tha Khởi Tánh (依他起性) và Viên Thành Thật Tánh (圓成實性); nhưng Đại Chủng là thật, còn sắc pháp sở tạo là giả. (3) Theo Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 3, lại tổng hợp những thuyết khác nhau của các bộ phái. (a) Thuyết của Đại Chúng Bộ (s, p: Mahāsāṅghika, 大眾部) cho rằng Bốn Đại là năng tạo, Bốn Trần là sở tạo, không có Năm Trần, đều thông với Lậu (漏) và Vô Lậu (無漏). (b) Thuyết của Tát Bà Đa Sư (薩婆多師, luận sư của Nhất Thiết Hữu Bộ) cho rằng Bốn Đại là năng tạo, chỉ Hữu Lậu (有漏), Hữu Ngại (有礙) bị thâu nhiếp bởi xúc xứ. Năm Căn, Năm Trần và Vô Biểu Sắc (無表色) của pháp xứ thuộc về sở tạo; nhưng Năm Căn, Năm Trần đều là Hữu Lậu, Hữu Nghi, mà Vô Biểu Sắc của pháp xứ là thật có, thông với Vô Lậu, được thâu nhiếp bởi Vô Ngại (無礙), nên có khác nhau về giả và thật. (c) Thuyết của luận sư thuộc Kinh Bộ, cho rằng năng tạo và sở tạo đều là Hữu Ngại, thông với thật giả, trong đó cái cực nhỏ là thật, thô sắc là giả; nhưng cả hai đều là Hữu Lậu. Vô Biểu Sắc là giả lập, v.v. Trong Đại Bát Niết Bàn Kinh Sớ (大般涅槃經疏, Taishō Vol. 38, No. 1767) quyển 21 có đoạn: “Nhân duyên tạm hội, thân thuộc chúng duyên, Tứ Đại giả hợp (因緣暫會、身屬眾緣、四大假合, nhân duyên tạm gặp, thân thuộc các duyên, Bốn Đại giả hợp).” Hay trong Cưu Ma La Thập Pháp Sư Đại Nghĩa (鳩摩羅什法師大義, Taishō Vol. 45, No. 1856) quyển Trung lại có đoạn: “Pháp Thân Bồ Tát, vô Tứ Đại Ngũ Căn, Tứ Đại Ngũ Căn tắc thần thông chi diệu (法身菩薩、無四大五根、四大五根則神通之妙, Pháp Thân Bồ Tát, không có Bốn Đại Năm Căn, Bốn Đại Năm Căn là diệu dụng của thần thông).”
- Tâm không (心空): tâm tánh rộng lớn, có thể dung nhiếp hết thảy vạn tượng, giống như hư không bao la, nên gọi là tâm không. Như trong Hám Sơn Lão Nhân Mộng Du Tập (憨山老人夢遊集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 73, No. 1456) quyển 26, phần Lư Sơn Vân Trung Tự Thập Phương Thường Trụ Bi Ký (廬山雲中寺十方常住碑記), có đoạn: “Thập phương đồng tụ hội, cá cá học vi, thử thị Tuyển Phật Trường, tâm không cập đệ quy (十方同聚會、個個學無爲、此是選佛塲、心空及第歸, mười phương cùng tụ hội, mỗi mỗi học vô vi, đây là Trường Chọn Phật, tâm không thi đỗ về).” Hay trong Tam Thời Hệ Niệm Phật Sự (三時繫念佛事, 卍Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1464) lại có đoạn: “Thị tâm thị Phật tương tâm niệm, niệm đáo tâm không Phật diệc vong (是心是佛將心念、念到心空佛亦忘, tâm ấy Phật ấy lấy tâm niệm, niệm đến tâm không Phật cũng quên).”
- Vô sanh, vô sinh (無生): còn gọi là vô khởi (無起), có hai nghĩa. (1) Thật tướng của các pháp không có sanh diệt; đồng nghĩa với vô sanh diệt (無生滅) hoặc vô sanh vô diệt (無生無滅). Sự tồn tại của các pháp vốn không có thật thể, do nhân duyên mà thành, là không, nên có thể nói rằng không có sanh diệt. Tuy nhiên, hạng phàm phu mê lầm lý vô sanh nầy, nên khởi lên phiền não về sanh diệt, vì vậy bị lưu chuyển sanh tử. Nếu nương theo kinh luận, quán lý vô sanh thì có thể trừ được phiền não sanh diệt. (2) Là ý dịch của A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢) hay Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). A La Hán có nghĩa là bất sanh (不生, không sanh), tức đoạn tận phiền não của Ba Cõi, không còn trở lại thọ sanh trong Ba Cõi nầy nữa. Lại nữa, người nương theo bản nguyện vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, là khế hợp với bản nguyện của Ngài, nhân vô sanh nầy chính là lý của Niết Bàn; cho nên khác với cái gọi là sanh vọng tưởng hư huyễn trong nội tâm của kẻ phàm phu. Về điểm nầy, Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, tức Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ gọi là “vô sanh chi sanh (無生之生, sanh của vô sanh).” Từ quan điểm không sanh diệt của Niết Bàn mà nói, tức chỉ giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là chứng đắc thân vô sanh; Cực Lạc là khế hợp với thế giới của Niết Bàn; và từ nghĩa nầy, có tên gọi là vô sanh giới (無生界, cõi vô sanh). Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, TaishōVol. 17, No. 842) quyển 1 dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh ư vô sanh trung, vọng kiến sanh diệt, thị cố thuyết danh luân chuyển sanh tử (一切眾生於無生中、妄見生滅、是故說名轉輪生死, hết thảy chúng sanh trong vô sanh, lầm thấy sanh diệt, cho nên gọi là luân chuyển sanh tử).” Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Vô sanh thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân, phiêu nịch sanh tử, Như Lai thật thể, vô hữu hư vọng, danh vi Niết Bàn (無生是實、生是虛妄、愚痴之人、漂溺生死、如來體實、無有虛妄、名爲涅槃, vô sanh là thật, sanh là giả dối, người mà ngu si, trôi lăn sanh tử, thật thể Như Lai, không có giả dối, gọi là Niết Bàn).” Hay trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (佛說仁王般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Thượng cũng cho biết rằng: “Nhất thiết pháp tánh chân thật không, bất lai bất khứ, vô sanh vô diệt, đồng chơn tế, đẳng pháp tánh (一切法性眞實空、不來不去、無生無滅、同眞際、等法性, tất cả pháp tánh chân thật không, chẳng đến chẳng đi, không sanh không diệt, đồng với chơn tế, ngang với pháp tánh).” Trong bài kệ thị tịch Thiền sư Quảng Nghiêm (廣嚴, 1121-1190) thuộc thế hệ thứ 11 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam có câu rằng: “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ, sanh vô sanh hậu thuyết vô sanh (離寂方言寂滅去、生無生後說無生, lìa diệt mới cho tịch diệt hết, đạt vô sanh rồi nói vô sanh).”